VNTB - Tự do hóa thương mại sẽ dẫn đến dân chủ hóa: chính sách sai của Mỹ?

An Viên lược dịch và bình luận (VNTB) -  Nếu Mỹ cạnh tranh hiệu quả với một Trung Quốc có sức mạnh và tham vọng đã tăng lên ở mức đáng b...


An Viên lược dịch và bình luận

(VNTB) - Nếu Mỹ cạnh tranh hiệu quả với một Trung Quốc có sức mạnh và tham vọng đã tăng lên ở mức đáng báo động, thì phải cực kỳ quan trọng trong việc đánh giá các nỗ lực của chính mình trong tác động đến quỹ đạo của Bắc Kinh ở những thập kỷ sắp tới. Rất khó có thể đáp ứng những thách thức sâu sắc mà Trung Quốc đặt ra, trừ khi nắm bắt được những gì đã cố gắng và những gì thất bại trước đó.



Hal Brands, cây viết của Bloomberg Opinion, là một nhà sử học người Mỹ, là học giả tại Đại học Johns Hopkins và Viện Doanh nghiệp Mỹ.

Trong một bài viết gần đây trên Japantimes, Hal Brands đã nhận định rõ ràng và chắc chắn: mọi tổng thống Mỹ, kể từ Reagan đều sai về Trung Quốc.

Cách ông dẫn giải về cái nhìn “ngây thơ” của các đời Tổng thống Mỹ với Trung Quốc đối với “thương mại và quyền con người” có thể là một bài học lớn cho cách mà chính quyền Mỹ, thậm chí EU hiện giờ, trong cách thức làm sao để không bị Bắc Kinh lạm dụng như trước nữa.

Mở rộng hơn, cách mà Bắc Kinh ứng xử với các chính sách của Mỹ có vẻ cũng được Việt Nam học hỏi khá nhanh, và những kỳ vọng cho sự thay đổi từ thời điểm thiết lập lại ngoại giao, cho đến ủng hộ vào WTO, gần đây là CPTPP và EVFTA, hoặc đã “tan nát” (WTO), hoặc như “đèn treo trước gió” (CPTPP, EVFTA). Chưa có một cam kết rõ ràng, một thiện chí thực thi, một lộ trình nhất định để đảm bảo những chính sách nhân quyền gài trong thương mại được hiện thực hóa đồng đều, bền vững và đúng như đề xuất.

Quan điểm “tự do hóa thương mại sẽ dẫn đến tự do hóa chính trị” có vẻ đã bị lung lay, nếu nhìn từ góc cạnh chính sách của Mỹ trong hàng thập niên qua, và những gì mà Trung Quốc đang tiến hành đối với dân chủ, nhân quyền trong nước với bàn tay cai trị của Tập Cận Bình. Và điều này cũng đang được hình thành tại Việt Nam.



Quay trở lại với bài viết của Hal Brands, ông cho rằng, các nhà hoạch định chính sách Mỹ trong những năm 1990 và 2000 có thực sự tin rằng việc mở rộng thương mại với Trung Quốc sẽ khiến chính phủ nước này trở nên nhân đạo và dân chủ hơn theo thời gian? Một số quan sát viên hàng đầu của Mỹ trong vấn đề Trung Quốc gần đây đã khẳng định, câu trả lời là không - các quan chức Mỹ không bao giờ coi trọng lập luận thương mại dẫn đến dân chủ.

Chính sách của Mỹ có thể được hiểu như sau.

Sau Chiến tranh Lạnh, Washington nhấn mạnh đến cam kết kinh tế và ngoại giao với Bắc Kinh. Chiến lược đó có nghĩa là đưa Trung Quốc vào trật tự quốc tế tự do và hiểu rõ thói quen tự do kinh tế sẽ dẫn đến tự do chính trị [lớn hơn]. Chiến lược đã thất bại, khi Đảng Cộng sản hiện đại hóa đất nước về mặt kinh tế và không quên đàn áp mạnh tay bất đồng chính kiến. Thay vì trở thành một nền dân chủ hài hòa, Trung Quốc trở thành một chế độ chuyên chế hiếu chiến. Nó được trao quyền bởi một chính sách khiến Bắc Kinh giàu hơn nhưng không đi kèm tự do hơn.

Tuy nhiên, bây giờ, một nhà Trung Quốc học hàng đầu của Mỹ thách thức câu chuyện này. Trong một bài viết cho tờ The Washington Quarterly, Alastair Iain Johnston của Harvard lập luận, “nỗ lực thúc đẩy tự do hóa ở Trung Quốc đã không thất bại”. Lý do, nhân quyền ở Trung Quốc, (chưa nói đến dân chủ hóa), chưa bao giờ là một yếu tố nổi bật trong thực tiễn chính sách, cam kết của Mỹ, ông John Johnston viết.

“Khó có thể đổ lỗi cho việc không đạt được kết quả khi không bao giờ cam kết nghiêm túc hoặc chưa bao giờ mong đợi [nhân quyền, dân chủ Trung Quốc] tiến triển xa.”

Theo Johnston, các nhà hoạch định chính sách Mỹ, hiếm khi nhấn mạnh đến quyền con người trong các “giao dịch hàng ngày” với Trung Quốc, và họ không ngây thơ đến mức hy vọng rằng hội nhập kinh tế sẽ nhanh chóng dẫn đến hiện tượng dân chủ hóa chế độ Lênin. Tương tự, các học giả hàng đầu về Trung Quốc khác, chẳng hạn như Ryan Hass của Viện Brookings, đã tuyên bố rằng, các quan chức Mỹ có thể đã nói về cải cách chính trị như một cách thuyết phục người Mỹ ủng hộ quan hệ thương mại mở rộng với Trung Quốc, nhưng nhân quyền và dân chủ không bao giờ là mục tiêu của chiến lược của Washington.

Tất cả điều này rất hữu ích trong việc nhắc nhở chúng ta rằng, các quan chức Mỹ không phải là những kẻ ngốc - họ không bao giờ tin rằng một giao dịch nhỏ sẽ biến Trung Quốc thành một nền dân chủ của chỉ sau một đêm. Nhưng lập luận rằng, đã không có sự tham gia thực sự về việc thúc đẩy nhân quyền và dân chủ là sai. Bởi, trước khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Tổng thống Mỹ Ronald Reagan đã nói rằng việc mở cửa kinh tế của Đặng Tiểu Bình chỉ là “hương vị tự do đầu tiên đối với hơn 1 tỷ người”, và rằng, “Mỹ đã tìm kiếm một sự tiến triển lớn hơn trong sự ôn hòa, ở Trung Quốc, “từ chủ nghĩa cộng sản sang dân chủ” bằng cách khuyến khích các lực lượng tự do hóa kinh tế và chính trị tại quốc gia này.

Sau những nỗ lực kết nối thương mại nhằm cải thiện hiệu suất nhân quyền thất bại, chính quyền của Clinton lập luận rằng, sự tham gia kinh tế dù sao cũng sẽ tạo ra một tầng lớp trung lưu [đòi hỏi] đang trỗi dậy - và có tiếng nói chính trị mạnh mẽ hơn. Chúng tôi càng đưa Trung Quốc vào thế giới, Tổng thống Mỹ Bill Clinton lập luận, thì thế giới sẽ mang lại sự thay đổi và tự do cho Trung Quốc.

Đây là một điểm của sự đồng thuận lưỡng đảng vào những năm 2000. Tự do kinh tế tạo ra thói quen tự do, George W. Bush nói trong chiến dịch tranh cử tổng thống đầu tiên của mình. Thương mại tự do với Trung Quốc, và thời gian đứng về phía chúng ta, người Trung Quốc có mức sống khá giả hơn sẽ muốn có tiếng nói lớn hơn trong tương lai và tạo ra áp lực xây dựng, cải cách chính trị.

Ý tưởng cơ bản này đã được đưa vào Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2002 của chính quyền Bush. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang nhận diện rằng, tự do kinh tế là nguồn tài sản quốc gia duy nhất. Trong thời gian đó, họ sẽ thấy rằng tự do chính trị và xã hội là nguồn duy nhất của sự vĩ đại từ một quốc gia.

Thế còn về việc, liệu có nhà hoạch định chính sách - đã sử dụng lời hứa tự do hóa để bán các chính sách gây tranh cãi, như gật đầu cho phép Trung Quốc tham gia WTO? Luôn có thể, bởi đằng sau hậu trường, có một tính toán cay độc hơn trong công việc. Nhưng trong một hệ thống dân chủ như nước Mỹ, cực kỳ khó để duy trì thứ mà nhà sử học Arthur Schlesinger gọi là hai bộ sách - một công, một riêng - trong một thập kỷ. Và ngay cả khi điều này là có thể, nó sẽ là một vụ bê bối theo đúng nghĩa của nó. Điều đó có nghĩa là các nhà lãnh đạo của Mỹ đã đánh lừa công chúng - và họ đã theo đuổi một chính sách mà họ biết sẽ củng cố Trung Quốc nhưng không làm cho nó trở nên ít độc đoán hơn.

Phải thừa nhận rằng, sau những năm 1990, các quan chức Mỹ không bao giờ biến cải cách nhân quyền và chính trị thành trung tâm của mối quan hệ hàng ngày với Trung Quốc.

“Sự lựa chọn giữa quyền kinh tế và quyền con người, giữa an ninh kinh tế và an ninh quốc gia, là một trong những điều sai lầm”, ông Clinton lập luận. Và tham gia [sâu] kinh tế có thể dẫn đến [khả năng] đánh đổ chính nó. Những trí thức hàng đầu như Thomas L. Friedman ủng hộ ý tưởng này, cho rằng toàn cầu hóa cuối cùng sẽ chứng minh rằng, nó không thể hòa giải được với chủ nghĩa độc đoán của Bắc Kinh.

Thực tế, nếu mọi thứ không diễn ra theo cách này, không có nghĩa đó là một chính sách ngây thơ. Cách tiếp cận đó xuất hiện vào thời điểm các chế độ độc tài đang bị cuốn phăng đi và chế độ Trung Quốc trông khá mong manh, dễ vỡ. Khoa học xã hội chỉ ra rằng thu nhập và trình độ giáo dục ngày càng tăng thường tạo ra vấn đề cho chế độ độc đoán.

Vào giữa những năm 2000, nhà báo và học giả James Mann đã chỉ ra rằng ĐCSTQ không tự do hóa. Thay vào đó, Bắc Kinh đã sử dụng sự thịnh vượng để đồng lựa chọn dân số và trả tiền cho một bộ máy đàn áp tinh vi khiến tầng lớp trung lưu ngày càng nằm trong tầm kiểm soát. Các học giả như George Downs và Bruce Bueno de Mesquita cho thấy các chế độ chuyên chế như Trung Quốc đang tự do hóa nền kinh tế của họ trong khi duy trì - hoặc thậm chí thắt chặt - công an trị. Tuy nhiên, phải mất một thập kỷ nữa để hầu hết các nhà quan sát ở Washington chấp nhận rằng trên thực tế, nó không làm suy yếu chủ nghĩa độc đoán của Trung Quốc.

Tại sao một cuộc tranh luận học thuật về lịch sử chính sách Trung Quốc của Mỹ ngày nay lại quan trọng?

Một phần, chính luận điểm lịch sử của ông Cameron Fukuyama đã giúp cung cấp nền tảng khái niệm cho sự lạc quan dân chủ truyền vào, với sự tham gia của Trung Quốc. Và, một phần, bởi vì chính sách đối ngoại có vẻ lạc hậu.

Nếu Mỹ cạnh tranh hiệu quả với một Trung Quốc có sức mạnh và tham vọng đã tăng lên ở mức đáng báo động, thì phải cực kỳ quan trọng trong việc đánh giá các nỗ lực của chính mình trong tác động đến quỹ đạo của Bắc Kinh ở những thập kỷ sắp tới. Rất khó có thể đáp ứng những thách thức sâu sắc mà Trung Quốc đặt ra, trừ khi nắm bắt được những gì đã cố gắng và những gì thất bại trước đó.

Related

VNTB 5877043602964884628

Đăng nhận xét Default Comments







Giúp chúng tôi truyền cảm hứng và khởi tạo nhiều câu chuyện, nhiều thay đổi hơn.
Cám ơn quý vị đã tiếp sức cho chúng tôi.

BÀI VỀ LUẬT AN NINH MẠNG

Theo dõi VNTB

VƯỢT TƯỜNG LỬA VÀO VNTB

TIN MỚI

TẤN CÔNG MẠNG

TRUYỀN HÌNH

Phản hồi

Trong tuần

FANPAGE VIỆT NAM THỜI BÁO

item