VNTB- Tưởng nhớ người anh hùng Schindler của đất nước Bồ Đào Nha

Mai Hưng VNTB -  Những ai đã từng xem bộ phim “Casablanca” (một bộ phim Mỹ nổi tiếng, sản xuất năm 1942 – người dịch) đều hiểu rõ mối liê...

Mai Hưng
VNTB - Những ai đã từng xem bộ phim “Casablanca” (một bộ phim Mỹ nổi tiếng, sản xuất năm 1942 – người dịch) đều hiểu rõ mối liên hệ giữa Bồ Đào Nha và những người tị nạn trong Thế chiến II. Nhưng ít ai biết câu chuyện của một nhà ngoại giao người Bồ Đào Nha tên là Aristides de Sousa Mendes, người mà vào năm 1940, đã cứu thoát hàng chục ngàn mạng người. Ông Aristides de Sousa Mendes đã bị chính phủ của mình (Bồ Đào Nha) trừng phạt vì hành động anh hùng này. 


Vào ngày chủ nhật vừa qua (27, tháng Một, 2019), khi chúng ta kỷ niệm Ngày Tưởng niệm Holocaust, chúng ta đã tôn vinh con người này, người mà đã can dự vào cái mà một nhà sử học đã gọi là “có lẽ là hành động giải cứu lớn nhất của một cá nhân trong diễn biến Holocaust” (Holocaust – một hoạt động tàn sát, một cuộc diệt chủng do nhà nước Đức Quốc xã, đứng đầu là Hitler, tiến hành và đã dẫn tới cái chết của khoảng 6 triệu người Do Thái. 
Một số nhà sử học định nghĩa Holocaust còn bao gồm cả năm triệu nạn nhân không phải Do Thái, bao gồm người Di-gan, người Slav, tù binh chiến tranh Liên-xô, những người cộng sản, người đồng tính, những nhân chứng Jehovah, và những người khuyết tật về tinh thần và thể trạng, thiệt mạng vì các cuộc thảm sát của Đức Quốc xã, qua đó đưa tổng số nạn nhân lên khoảng 11 triệu người. Hoạt động tàn sát này diễn ra trên toàn bộ lãnh thổ Đức Quốc xã và các quốc gia khác bị Đức Quốc xã chiếm đóng – người dịch).
Vốn là một cậu ấm quý tộc, Sousa Mendes (họ tên đầy đủ: Aristides de Sousa Mendes do Amaral e Abranches, 1885 – 1954) đã đảm nhận một công tác trong ngành ngoại giao sau khi tốt nghiệp trường luật và đã công tác nhiều năm trong thời kỳ bão táp ngoại giao những năm trước chiến tranh thế giới II, một công tác mà đã đưa ông đi nhiều nơi, từ Zanzibar (thuộc Cộng hòa Thống nhất Tanzania, Đông Phi – người dịch) cho tới San Francisco (Mỹ) trước khi đến nhận công tác miền nam nước Pháp vào năm 1938. Ông Sousa Mendes là một nhà ngoại giao hoạt bát và xuất sắc, đã từng giao du với những ngôi sao tầm cỡ thế giới như Albert Einstein và Vua Alfonso XIII của Tây Ban Nha. Nhưng với chức vụ được bổ nhiệm làm tổng lãnh sự tại Bordeaux, thì mọi việc đã trở nên nghiêm túc hơn nhiều.
Khi những ngọn gió chiến tranh chết chóc quét thổi qua khắp châu Âu, thủ tướng độc tài của Bồ Đào Nha, ông Antonio de Oliveira Salazar (1889 – 1970, thủ tướng Bồ đào nha từ 1932 đến 1968 – người dịch), đã kiên quyết duy trì lập trường trung lập nghiêm ngặt. Vì vậy, vào cuối năm 1939, vài ba tháng sau khi Đức xâm chiếm Ba Lan, Bộ Ngoại giao Bồ Đào Nha đã ban hành Thông tư 14 khét tiếng, gửi đến tất cả các đại sứ quán và lãnh sự quán, công bố các quy định mới liên quan đến những người mà sẽ không được cấp thị thực nhập cảnh nếu không có sự chấp thuận trực tiếp từ Bộ ngoại giao (Bồ đào nha). Những loại người (nguyên văn: “categories of people”) mà “có quốc tịch không xác định, quốc tịch bị phản đối hoặc đang còn tranh cãi”, những người không có khả năng có thể tự do trở về tổ quốc hoặc không có khả năng tự nuôi sống mình, đều bị loại trừ. Có một loại người thuộc dạng mặc nhiên (bị từ chối): Người Do Thái bị trục xuất khỏi các quốc gia mà họ đang mang quốc tịch nước đó. Thông tư 14 liên quan đến chính những người tị nạn, những người mà, đối với họ, thông tư ngoại giao trên đây là vấn đề của sự sống và cái chết.
Ông Sousa Mendes đã chống lại việc thi hành Thông tư này ngay từ lúc khởi đầu. Sau đó, vào tháng 5 năm 1940, cuộc tấn công quân binh chủng cơ giới hợp thành tốc chiến (nguyên văn: “blitzkrieg”) của Đức quốc xã tràn ngập nước Pháp. Hàng chục ngàn người đã đổ về Bordeaux bằng tàu hỏa, ô tô, xe đạp và thậm chí là đi bộ. Những đám đông đã tụ tập tại lãnh sự quán Bồ Đào Nha (tại Bordeaux). Ông Sousa Mendes đã đánh điện tín về Lisbon để xin hướng dẫn thực hiện. Điện từ Lisbon trả lời: thi hành Thông tư 14.
Ngày 17 tháng 6, Paris sụp đổ. Ông Sousa Mendes ngày càng bị tra tấn, hành hạ bởi những gì ông nhìn thấy. Tại mặt tiền của đại giáo đường Do-thái giáo tại Bordeaux (nguyên văn: “In front of the great synagogue of Bordeaux”), ông Sousa Mendes đã gặp Chaim Kruger, một giáo sĩ trẻ Do-thái giáo người Ba Lan cùng với gia đình của vị giáo sĩ này tụ tập thành những đám đông hàng ngàn người Do Thái tại quảng trường. Ông Sousa Mendes đề nghị giúp đỡ, nhưng yêu cầu thị thực của ông đối với ông Kruger và gia đình ông này đã bị từ chối. Ông Sousa Mendes đã hứa với vị giáo sĩ trẻ này là sẽ làm tất cả mọi việc trong phạm vi khả năng của mình để có được các giấy tờ cần thiết.
“Không chỉ một mình tôi cần sự giúp đỡ”, người giáo sĩ trẻ đạo Do-thái đã nói với ông Sousa Mendes như vậy, “mà tất cả mọi người Do Thái đồng bào của tôi đang gặp nguy hiểm đến tính mạng của họ đều cần được giúp đỡ”.
Những lời nói này đánh động ông Sousa Mendes như một tiếng sét ngang tai. Trong ba ngày liền, ông Sousa Mendes đã nằm trong tuyệt vọng trên giường, theo một cuốn sách tinh tế về tiểu sử của ông Sousa Mendes do tác giả Jose-Alain Fralon chủ biên, cuốn sách này nhan đề là “Một con người tốt bụng trong thời thổ tả: Câu chyện về Aristides de Sousa Mendes” (nguyên văn: “A Good Man in Evil Times: The Story of Aristides de Sousa Mendes”). Sau đó, ông (Sousa Mendes) bật dậy khỏi giường với một tâm trạng tràn đầy năng lượng. “Ngay bây giờ tôi sẽ cấp visa thị thực nhập cảnh cho tất cả mọi người”, nhà ngoại giao này tuyên bố như vậy. “Sẽ không có phân biệt bất kỳ một quốc tịch, chủng tộc hay tôn giáo nào khác nữa”.
“Tôi không được phép để cho tất cả mọi người quý vị phải chết”, ông Sousa Mendes với những người tị nạn.

Vị giáo sỹ trẻ Do-thái giáo Kruger đi thu nhận tất cả hộ chiếu của những người Do Thái có mặt tại quảng trường. Và ông Sousa Mendes ký tên mình vào tất cả các quyển hộ chiếu ấy. Thật vậy, ông Sousa Mendes đã tiến hành ký vào tất cả các tấm visa thị thực được đặt trước mặt ông, thiết lập một dây chuyền cung cấp visa thực sự. Hai người con trai của ông cùng với các thành viên khác trong gia đình và ông Kruger đã chuẩn bị các cuốn hộ chiếu và thị thực để chờ ký, trong khi đó, viên phó lãnh sự của ông, Jose Seabra, 32 tuổi, chụp ngay và luôn con triện mang hình quốc huy.

Tin tức nhanh chóng lan đi và lãnh sự quán đột nhiên đông đến mức … hết công suất (nguyên văn: “and the consulate was suddenly filled to capacity”). Chính bản thân ông lãnh sự cũng làm việc thâu đêm để ký visa thị thực, chữ ký của ông lãnh sự từ chỗ đầy đủ là “Aristides de Sousa Mendes” đến chỗ chỉ còn vẻn vẹn hai chữ “Mendes”, khi tay ông đã mệt mỏi. Ông Seabra (phó lãnh sự) thì tuyệt vọng cố gắng duy trì trật tự, cầu xin những người nộp đơn chỉ đến trong giờ làm việc bình thường. “Hãy quay trở lại khi nhà độc tài không có mặt ở đây!” - ông Sousa Mendes đã nói đùa với họ như vậy.

Các hành động của ông Sousa Mendes đã gây ra một sự chú ý từ cấp trên bởi một hành động khiếu nại không ai có thể tưởng tượng được (nguyên văn: “by an act of fantastic pettiness”). Một phụ nữ người Anh, người này được yêu cầu đợi vài giờ để được cấp một visa du lịch thông thường đã tức tốc lao ra khỏi lãnh sự quán và đâm đơn khiếu nại. Đại sứ quán Anh tại Lisbon, một cách ngốc nghếch, đã phàn nàn với Bộ Ngoại giao Bồ Đào Nha rằng ông Sousa Mendes đang làm việc ngoài giờ quy định bình thường và khẳng định một cách xuyên tạc rằng ông Sousa Mendes đòi hỏi lệ phí đối với việc cấp visa thị thực.

Ông (thủ tướng) Salazar đích thân ra lệnh cho ông Sousa Mendes phải đóng cửa (lãnh sự quán Bồ đào nha tại Bordeaux – người dịch), đồng thời chỉ thị cho viên đại sứ của ông ta tại Pháp phải tiến hành điều tra những gì đang diễn ra. May mắn thay, ông Sousa Mendes đã di chuyển đến một lãnh sự quán khác vẫn thuộc quyền giám sát của ông tại Bayonne để tiếp tục công việc của mình. Khi viên phó lãnh sự địa phương đến, người này thấy ông Sousa Mendes vẫn đang thoải mái bên bàn làm việc nơi mà ông đã ba ngày liền ký cấp các visa thị thực.

Tháng 6 năm 1940, một hiệp định đình chiến giữa Pháp và Đức sắp được ký kết, có nghĩa là biên giới sẽ sớm bị đóng cửa. Đó là một cuộc đua với thời gian. Ông Salazar đã ra lệnh rằng ông Sousa Mendes phải bị tước quyền cấp thị thực nhập cảnh, ngay trong khi ông Sousa Mendes đang trên đường đến Hendaye, một địa điểm gần biên giới Tây Ban Nha. Tại đó, ông Sousa Mendes đã ngang nhiên bất chấp những mệnh lệnh của nhà độc tài, không chỉ ký vào những cuốn những hộ chiếu được ném vào cho ông bởi những người tị nạn tuyệt vọng, mà còn ký vào cả cả những tấm chứng minh thư và những mẩu giấy vụn ngẫu nhiên, cho phép những người sở hữu những giấy tờ như thế được phép nhập cảnh vào Bồ Đào Nha.

Tại ngay biên giới, ông Sousa Mendes đã hướng dẫn dòng người tị nạn đến một ngã tư ít được biết đến, nơi mà ông thường sử dụng để tránh ách tắc giao thông mỗi khi trở về Lisbon. Lực lượng biên phòng Tây Ban Nha, lúc bấy giờ vẫn chưa có điện thoại, vẫn chưa nhận được thông báo từ Madrid rằng biên giới đã bị đóng cửa. “Tôi là lãnh sự Bồ Đào Nha. Những người này là đi cùng với tôi”, ông Sousa Mendes nói với họ (lực lượng biên phòng Tây Ban Nha – người dịch) như vậy và hộ tống cả đoàn người qua biên giới.

Tháng 7 (1940), ông Sousa Mendes trở lại Bồ Đào Nha và được nghe những tin tức không vui vẻ gì rằng ông Salazar đã tiến hành các thủ tục tố tụng kỷ luật đối với ông. “Mục đích đầu tiên và cuối cùng của tôi là nhân đạo”, ông Sousa Mendes đã giải thích như vậy trong một phúc trình của ông.

Bộ Ngoại giao (Bồ Đào Nha) kết luận rằng ông Sousa Mendes đã gây ra một tình huống rất xấu đối với Bồ Đào Nha trong mắt chính quyền Tây Ban Nha và các lực lượng chiếm đóng Đức quốc xã.

Ông Lousa Mendes nói rằng “sinh mệnh con người cần phải được cứu thoát và các gia đình không thể bị chia tách. Tôi cũng đã suy nghĩ về số phận sẽ dành cho những người đó, nếu họ rơi vào tay kẻ thù. Nhiều người trong số họ là người Do Thái đang bị săn lùng và đang cố gắng trốn thoát khỏi nỗi kinh hoàng của một cuộc tàn sát hủy diệt tiếp theo”.

Theo lệnh của (Thủ tướng) Salazar, ông Sousa Mendes bị cách tuột mọi chức hàm lãnh sự và buộc phải nghỉ hưu mà không có lương hưu (không có “sổ hưu”, theo cách nói của người VN. Từ chỗ nắm tay thề bồi “suốt đời phấn đấu hy sinh” vì những lý tưởng cao siêu này nọ, nay thì người ta giở giọng nói rằng “vì cái sổ hưu”, làm cứ như là không có sổ hưu thì con người ta chết hết cả đấy! Giống hệt một câu nói, được cho là của Napoleon, “Từ cái cao cả đến cái lố bịch, khoảng cách chỉ là 1 phần tư lưỡi dao lam” - người dịch). Ở tuổi 55, sự nghiệp của ông Sousa Mendes vậy là đã kết thúc (Ở VN, người ta sẽ nói là “vậy là đã đi đứt” một cách đầy tiếc nuối, bởi vì không còn được xách tay sừng tê giác và phơi vây cá mập trên nóc tòa đại sứ quán nữa! - người dịch).

Ông Sousa Mendes (từ chỗ là một cậu ấm quý tộc, một viên chức ngoại giao cao cấp – người dịch) nay đã phải sống cả một thập kỷ tiếp theo trong chốn vô danh và trong tình trạng khó khăn khủng khiếp về tài chính, bị vấp ngã vì đột quỵ. Trong khi đó, ông (thủ tướng) Salazar lại tự hào về tất cả những gì mà chính quyền Bồ Đào Nha đã hành động giúp cho những người chạy trốn thoát khỏi nạn diệt chủng Holocaust. Theo một trình thuật của ông Fralon, tác giả của cuốn tiểu sử về ông Sousa Mendes, thì ông (thủ tướng) Salazar đã phát biểu (ráo hoảnh) như thế này “đối với những người tị nạn, chúng tôi đã thực thi bổn phận của mình, mặc dù, thật đáng tiếc, chúng tôi đã không thể làm gì hơn” (nguyên văn: “As regards the refugees, we did our duty, though it is a pity we could not do more”).

Ông Sousa Mendes đã qua đời trong tình trạng không được ai biết đến vào năm 1954, bị chính phủ (Bồ đào nha) ruồng bỏ, không ngó ngàng gì đến và bị hành hạ bởi các chủ nợ, đến mức phải sống nhờ vào một bếp ăn đạm bạc của người Do Thái địa phương (nguyên văn: “reduced to being fed by a local Jewish soup kitchen”).

“Liệu ông ấy (Sousa Mendes) có phải là một con người vĩ đại hay không? Phải chăng ông ấy (Sousa Mendes) là một người điên khi thể hiện ít ỏi đến thế cái bản năng tự bảo vệ mình (của chính ông ấy)?” - một trong những người con trai của ông (Sousa Mendes) đã đặt câu hỏi như vậy. “Câu trả lời nằm trong tất cả chúng ta khi chúng ta cố gắng phán xét về ông ấy. Tôi tự hào về sự thật rằng tôi đã quá may mắn khi có được một người như thế là cha đẻ của mình”.

Hàng vạn con người ngày nay còn được sống là nhờ vào lòng can đảm của ông.

*Richard Hurowitz là một nhà đầu tư, một nhà văn và một nhà xuất bản của “Báo cáo Octavia”, một tạp chí ra hàng quý.

Nguồn: The New York Times International Edition
Tuesday, January, 29, 2019

Related

world 7481464396525398398

Đăng nhận xét Default Comments







Giúp chúng tôi truyền cảm hứng và khởi tạo nhiều câu chuyện, nhiều thay đổi hơn.
Cám ơn quý vị đã tiếp sức cho chúng tôi.

BÀI VỀ LUẬT AN NINH MẠNG

Theo dõi VNTB

VƯỢT TƯỜNG LỬA VÀO VNTB

TIN MỚI

TẤN CÔNG MẠNG

TRUYỀN HÌNH

Phản hồi

Trong tuần

FANPAGE VIỆT NAM THỜI BÁO

item