VNTB - Việt Nam có tạo sự đột phá trong bền vững hóa nông nghiệp?

Ánh Liên (VNTB) 

Trong phiên thảo luận liên quan đến Hệ thống Lương thực ASEAN đổi mới (Food Systems Innovative ASEAN) nằm trong chuỗi WEF ASEAN 2018, câu chuyện chuyển đổi nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững là chủ đề thu hút nhiều sự quan tâm, nhất là khi phần đông các quốc gia ASEAN vẫn sở hữu một lượng lớn đất nông dân với 10 triệu nông dân. Cụ thể, chiến lược cho nông nghiệp trong khu vực và chia sẻ mục tiêu chung là khuyến khích hiện đại hóa ngành nông nghiệp và hệ thống lương thực, trong đó có nông dân sản xuất nhỏ ở cốt lõi của chuỗi cung ứng sinh lợi, bền vững và phát triển.


Ảnh minh họa.

Đề cập đến nông nghiệp, là đề cập đến trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản. Tuy nhiên, trong giới hạn bài viết này, chỉ đề cập đến trồng trọt, mà ở đây là trồng lúa, một phần xuất phát từ cây lúa vẫn đóng đóng vai trò rất lớn trong an ninh lương thực, xóa đóng giảm nghèo cũng như trong hệ thống xuất xuất khẩu nông nghiệp của Việt Nam, và cây lúa cũng sẽ phản ánh hiện thực sơ sài của nền nông nghiệp nước nhà.


Diện tích không lớn dẫn đến không hiện đại hóa nông nghiệp?

Nhiều lý do được đặt ra nhằm giải thích vì sao lúa gạo ở Việt Nam và người nông dân trồng lúa vẫn bấp bênh (thiếu bền vững về mặt năng suất lẫn thu nhập). Và ‘tư liệu sản xuất’, tức là đất (hạn điền) được chỉ ra như một yếu tố liên quan đến sự thành công trong việc gia tăng tiếp cận khoa học - kỹ thuật trong nông nghiệp (gián tiếp tăng năng suất lao động?) tại Việt Nam, lý do diện tích ruộng đất (trồng lúa) ở Việt Nam là nhỏ lẻ, không đủ lớn để cơ khí hóa hay khoa học hóa, khiến tính bền vững suy yếu.

Cụ thể, lập luận được đưa ra là xuất phát từ quá trình ‘cải cách ruộng đất, dân cày có ruộng’ trong lịch sử, nên tại Việt Nam, sản xuất lúa gạo thường nằm trên thửa đất có diện tích nhỏ, rõ nhất là trên đồng ruộng với các diện tích được đắp bằng hệ be bờ (bằng đất) luôn được cho là nguyên nhân cản trở quá trình thâm nhập của công nghệ (cơ khí hóa) vào trong nông nghiệp, và tính nhỏ lẻ này khiến ứng dụng khoa học kỹ thuật về giống cho đến khi thu hoạch luôn trong trạng thái rời rạc. Dù vậy, điều này đang được chứng minh là sai khi tại ĐBSCL có diện tích đất trồng lúa lớn, cơ khí hóa tham gia vào quá trình sản xuất, thế nhưng, người nông dân ở đây vẫn bấp bênh về thu nhập lẫn đầu ra (năng suất lao động không cao).

Trong khi đó, trong một bài viết thực tế vào ngày 22.09 của báo Nông nghiệp cho biết, tại Hàn Quốc tồn tại những mảnh ruộng nhỏ (400-500m2), nhưng năng suất lao động tốt, riêng lúa đã ở mức 6 triệu tấn, và giá trị nông nghiệp có tính xuất khẩu cao. Phải chăng Hàn Quốc có chính sách nông nghiệp đúng đắn hơn, áp dụng nhuần nhuyễn KHKT tốt hơn, và người lao động có ý thức cao hơn là nguyên nhân làm nên sự khác biệt trong nông nghiệp nước này so với Việt Nam? Có thể, nhưng mấu chốt vẫn là chính sách nông nghiệp và ý thức của người nông dân.

Chính sách nông nghiệp phải đảm bảo rằng, tiêu chuẩn hóa đồng bộ từ giống cho đến thuốc bảo vệ thực vật; từ lúc gieo hạt cho đến lúc thu mua. Tuy nhiên, tại Việt Nam, câu chuyện được mùa mất giá luôn xảy ra; các sản phẩm nông nghiệp đưa ra thường xấu cả về hình thức lẫn tồn đọng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong sản phẩm; tình trạng người nông dân bị tư thương ép giá hay nông dân tìm cách hủy hợp đồng thu – mua với các doanh nghiệp luôn diễn ra khi được mùa. Đặc biệt, vai trò khuyến nghị và hướng dẫn sản xuất nông nghiệp tại các phòng – sở về chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp ở các xã – huyện – tỉnh khá mờ nhạt, dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy làm.

Khi tư liệu sản xuất (đất) hay các giá trị cấu thành nên sản phẩm (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, đầu ra) bấp bênh về mặt chính sách, thì sự mất mát về niềm tin trong sản xuất nông nghiệp ở người nông dân lẫn những người đang làm trong nông nghiệp là điều tất yếu.

Lấy ví dụ, mấy năm nay khi giá điều và café lên cao, thì nhà nước tìm cách chuyển đổi và ưu tiên cây trồng loại này, trong khi tìm cách bỏ rơi chính sách nông nghiệp liên quan đến gạo. Điều này càng đẩy gạo Việt Nam rơi vào trạng thái bấp bênh, nhất là về mặt chất lượng hạt gạo kém hơn so với gạo trồng ở Thái Lan. Bên cạnh đó, chi phí nhiên liệu, phân bón và thuốc trừ sâu không ổn định, trong khi nhà nước luôn nhấn mạnh việc ‘tuân theo thị trường’ các sản phẩm này thay vì tìm cách giữ giá để phụ trợ người nông dân, giúp họ an tâm sản xuất. Bản thân ngành xuất khẩu gạo của Việt Nam bị chi phối bởi các doanh nghiệp nhà nước và có xuất hiện yếu tố tham nhũng, ngay trong Hiệp hội Lương thực Việt Nam (vốn giữ vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo giá đầu ra cho sản phẩm) lại thiếu vắng đại diện nông dân trong đội ngũ ban điều hành. Trong khi Thái Lan, gạo nước này có chất lượng cao hơn, năng suất lao động nông dân tăng lên, một phần là nhờ Chính phủ Thái Lan trợ giá cho nông dân trồng lúa.

Thế nên, trong một báo cáo của Oxfam về nông nghiệp Việt Nam năm 2014, cho biết, tỉnh An Giang, trung tâm lúa gạo của đồng bằng sông Cửu Long, nhưng một gia đình trung bình kiếm được 100 đô la một tháng từ việc trồng lúa, bằng 1/5 những gì người trồng cà phê kiếm được ở Tây Nguyên.

Thứ hai, nhằm đảm bảo an ninh lương thực đến năm 2030, thì Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn nhấn mạnh diện tích đất lúa cả nước tối thiểu cần giữ là 3,2 triệu ha với diện tích gieo trồng 6 triệu ha và năng suất bình quân khoảng 6 tấn/ha, hay Chính phủ Việt Nam đề ra quyết tâm duy trì 90% diện tích đất trồng lúa vĩnh viễn. Tuy nhiên, diện tích nông nghiệp luôn trong tình trạng sẽ bị thu hồi vì lý do công cộng hoặc quốc phòng (theo Luật đất đai 2013). Lượng đất chuyển đổi nông nghiệp luôn được hướng sang đất thương mại – dịch vụ, và chuyển đổi mục đích sử dụng đất này khiến cho không ít người nông dân rơi vào cảnh ly tán, từ Đồng Tâm, Văn Giang, cho đến quyết định chuyển đổi 26.000 ha đất nông nghiệp tại Tp. HCM.

Ngoài ra, Việt Nam trong khi ưu ái mở rộng nguồn cho thuê đất đối với các doanh nghiệp (công nghiệp - dịch vụ) lên đến 70 năm (Formosa), hoặc 90 năm (dự thảo Luật về đặc khu) nhưng nông nghiệp – tại một đất nước nông nghiệp lại không được thế, mặc dù trong lần sửa đổi gần nhất đây của Luật đất đai cho phép nông dân thuê đất 50 năm, giúp đảm bảo sự an tâm của người nông dân trong mở rộng diện tích hoặc nâng cao năng lực sản xuất, thế nhưng thời hạn 50 năm cũng chưa làm hài long người dân, mà chính xác ra như Nguyên Chủ tịch tỉnh An Giang Nguyễn Minh Nhị (báo Tia Sáng 8.6.2017) chia sẻ: Điều này đã gây lo lắng, hoài nghi trong dân nhưng không ai nói ra.

Điều đó cho thấy rằng, nông nghiệp Việt Nam thiếu một tầm nhìn, và tầm nhìn này đến từ ngày trong Chính phủ với chính sách nông nghiệp có phần thiếu nhất quán nêu trên, khiến nông dân Việt Nam rơi vào trạng thái ‘thiếu niềm tin trong làm nông nghiệp’. Đây là lý do vì sao, mặc dù là một quốc gia lúa nước, nhưng nông nghiệp chưa bao giờ trở thành một thế mạnh đáng giá trong GDP của Việt Nam.

Kết

Niềm tin là thứ sống còn đối với nông dân để đối phó với nạn lên xuống thất thường của các loại sâu bệnh lẫn trong đưa sản phẩm đi tiêu thụ. Niềm tin cũng chính là lý do để người nông dân tiến hành áp dụng các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp cao. Và niềm tin cũng chính là cách để nông dân sống được với nghề. Đấy chính là yếu tố cơ bản nhất làm nên ‘chuyện chuyển đổi nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững’ mà Food Systems Innovative ASEAN đề ra.

Người viết vì thế hoàn toàn đồng ý rằng, muốn phát triển nông nghiệp ở Việt Nam, thì thuyết phục nông dân tin theo hướng dẫn xây dựng nông nghiệp xanh – sạch và có thành phẩm cao chứ không phải bỏ rơi họ và chạy theo ‘thị hiếu của thị trường’. Điều này, nhà nước Việt Nam chưa làm tốt trong thời gian qua, cũng như việc tham gia của các tổ chức xã hội hoặc xã hội dân sự chưa đậm nét như tại các quốc gia nông nghiệp phát triển khác.

Related

VNTB 4744376767906464933

Đăng nhận xét Default Comments







Giúp chúng tôi truyền cảm hứng và khởi tạo nhiều câu chuyện, nhiều thay đổi hơn.
Cám ơn quý vị đã tiếp sức cho chúng tôi.

BÀI VỀ LUẬT AN NINH MẠNG

Theo dõi VNTB

VƯỢT TƯỜNG LỬA VÀO VNTB

TIN MỚI

TẤN CÔNG MẠNG

TRUYỀN HÌNH

Phản hồi

Trong tuần

FANPAGE VIỆT NAM THỜI BÁO

item