VNTB - Ký sự Miến Điện: Đi tìm anh em lạc loài (Kỳ 2)

Quang Nguyên (VNTB) Thế rồi chúng tôi cũng đến được chỗ muốn đến. Kỳ I:  VNTB - Ký sự Miến Điện: Đi tìm anh em lạc loài Bây giờ tôi...

Quang Nguyên (VNTB) Thế rồi chúng tôi cũng đến được chỗ muốn đến.


Bây giờ tôi đang ở trên khu cao nhất trong một vùng núi đâu đó cách xa tinh lỵ Ta-Chi-Leik, bang Shun, Myanmar hơn 100 km đường xe hơi, cách biên giới Trung Quốc chỗ gần nhất 50 km, và không xa sông Mekong.

Ngày hôm qua chúng tôi không ra được khỏi tính ly. Có 3 tram kiểm soát cố định trên đường từ tỉnh lỵ đến chỗ chúng tôi muốn đến, ngoài ra còn các trạm kiểm soát lưu động được dựng nên bất kỳ chỗ nào. Không một tài xế xe đò, xe taxi và ngay cả xe ôm nào dám chở chúng tôi. Chúng tôi mua vé hoặc trả giá đi ra khỏi vùng ngoại ô thành phố đều bi đòi xem giấy tờ và từ chối lấy lý do chúng tôi không được phép ra khỏi thành phố. Nếu chở chúng tôi họ sẽ bị phạt rất nặng. Sáng nay với sự giúp đỡ của các anh em, bạn hữu, chúng tôi thoát khỏi các trạm kiểm soát dọc đường dễ dàng.

Tác giả bài viết - nhà báo Quang Nguyên (người bế bé nhỏ bìa phải), hội viên Hội nhà báo độc lập Việt Nam, hiện sống ở Hoa Kỳ.
Đường đi hết rừng rồi núi, xanh ngát, ngút ngàn,ngoằn ngoèo uốn lượn. Dòng sông đục phù sa cuồn cuộn ôm chân núi.Tôi ngồi sau xe, nghiêng ngả như khiêu vũ, hết những giờ đầu thoải mái, thú vị đến những giờ sau mệt mỏi, mông đau nhừ, hai chân cứng đơ.

Đèo tôi là một 'Tay lái lụa’, với bản năng leo cao, tăng tốc, lượn lách như bay của người Mông, anh ta giống như những chàng trai tôi đã từng có dịp ngồi sau lưng, phóng xe một mạch đường gấp khúc, hẹp, trơn trượt, từ chân núi đến đỉnh núi không ngừng nghỉ trong những lần tôi đi thăm anh em trên Hà Giang, Điện Biên... Đường đi tìm anh em Mông lần này có đoạn hàng chục cây số gấp khúc. Chạy cách nhau không xa, xe sau thỉnh thoảng mới thấy xe trước thoáng qua sau khúc quanh. Hàng chục cây số không một bóng người, không một căn nhà. Điều nghĩ dại nếu xe hỏng hay nổ lốp rơi ngay vào xe tôi. Chiếc xe đang vun vút chạy, đến dốc cao phải tăng ga, bỗng phát tiếng động lạ rồi khựng lại. Xe trước vẫn chạy. Không có sóng điện thoại để báo họ biết.Chiếc xe đi trước không quay trở lại. Mà có trở lại thì cũng chẳng giúp được gì. Tay lái lụa trở thành con đại bàng gẫy cánh, máy xe vẫn nổ xình xịch, nhưng xe không nhúc nhích. Anh chàng xem qua loa chiếc xe, bảo xích xe bị đứt rồi. Chờ mãi mới có một chiếc xe chạy cùng chiều, cả hai chúng tôi đều không biết tiếng Miến. May quá, người lái xe biết tiếng Anh đủ hiểu tôi nói xe tôi bị hư muốn được giúp chở đến chỗ sửa chữa gần nhất. Người lái xe nói không thể chở cả người và xe. Quả thật xe ông ta đấy nhóc hàng. Những xe đi sau đều từ chối, họ nói chỉ cho người đi nhờ.


Trời chiều, các vệt nắng bắt đầu tắt. Anh bạn trẻ muốn một mình tôi đi nhờ xe về trước. Tôi từ chối.

Buồn nẫu ruột, lại phát bực mình khi thấy anh bạn mang clé ra mở tấm che xích xe. Anh bảo, trước khi dấu xe vào rừng, khóa lại, rồi bắt xe đi tìm chỗ mua đồ trở lại sửa, cần phải biết xe hư như thế nào. Anh hì hục mở được tấm che xích xe, phát giác xích chỉ bị tuột. Chúng tôi phí mất gần một tiếng đồng hồ chỉ vì tội ‘xemwualoa’.

Đường từ ngã ba tỉnh lộ vào đến tận bản có lẽ là một trong các đoạn đường tôi sẽ không thể quên. Hàng hàng ổ trâu ổ voi ngập nước và bùn, hậu quả đi lại mỗi ngày của hàng trăm chiếc xe vận tải của các chú chệt làm chủ các đồn điền trồng chuỗi trong vùng. Hai người bạn của tôi đã ngã trên đường này. Cái ố voi ngập nước và bùn vừa đủ chỗ lăn kềnh một chiếc xe và 2 người! May mà đồ đạc mang theo không sao.

Những hàng chuối trong đồn điền dọc theo đường đi, cây mới mọc xen lẫn những cây đã chết nghiêng ngả còn khoác những bao ni lông lớn đã dùng che các quầy chuối khỏi bị dơi, chim ăn nhin bẩn thỉu và buồn bã. Hàng đống, hàng đống chuối đổ ven đường đen xì, ruỗng rữa bốc mùi như các tấm ván thôi mới bốc mả.

Về đến gần bản, người Thái Lan và người Miễn cũng gọi là bản, trời sập tối, vừa lúc mấy thanh niên lấy xe đi ngược ra tìm chúng tôi. Ùa ra đón chúng tôi có cả những trẻ con trần truồng, bụng to phềnh, bẩn thỉu.


Tôi ngạc nhiên thấy có những chiếc mini van mới, bóng nhoáng đắt tiền của Nhật đậu trong sân nhà họ, dưới các mái che.Họ bảo tôi đó là xe của mấy ông chủ người Tầu để nhờ.


Xóm nhà người Mông cách biệt và cao nhất trong bản gồm phần lớn người Miến. Có một gia đình người Hoa. Những căn nhà người Mông hoàn toàn, từ vách đến mái bằng tôn, sáng bóng, nhỏ bé nằm trên các bờ dốc trơn trượt, nghèo nàn thua xa khu nhà sàn vốn cũng nghèo nàn của người Miến. Những tấm tôn lá mỏng là vật liệu dễ dựng nhà, tháo ra và dễ cuốn lại mang đi trong trường hợp phải dời chỗ ở.



Những ngôi nhà trong bản như phủ phục dưới chân một căn nhà bệ vệ uy nghi dựa lưng một quả đồi đã trồng cây ăn trái, với hàng chục đèn lồng ngoài sân và các hàng chữ Hán dọc ngang, xanh đỏ trước nhà. Đó là cơ ngơi của 1 người Hoa duy nhất ở đây.


Nhà người Mông dựng trên những vạt đất cắt xén từ các quả đồi. Ông trưởng bản người Miến nói các gia đình người Mông nên dành đất cho những người sắp tới, làm nương rẫy thì đi ra xa khỏi bản, ngoài đó còn đất rất rộng.


Mỗi nhà đều có một tấm pin mặt trời.




Vào buổi tối họ thắp sáng bằng những bóng đèn led. Có lẽ nước là thứ dư thừa mà họ có được. Nước được dẫn từ suối cao về nhà bằng các ống nhựa, đủ trong, đủ sạch để dùng trong sinh hoạt.

Nhà nào cũng có vài con chó săn.



Cha mẹ ông bà chúng hay chính chúng đã theo chủ từ Việt Nam sang, có con giá tới 5000000₫. chúng không dữ dằn, không sủa dai nhách giống như nhiều con đồng loại ở nhà quê Việt Nam, nhưng chúng có vẻ phớt lờ mọi người lạ.

Không thấy họ nuôi gà vịt,heo. Họ nói gà vịt dế bị chồn cáo bất, và có lần gà cả bản bị dịch chết hết, bây giờ không nuôi nữa, còn heo thì không đủ tiền mua con giống.

Bà chủ nhà nơi chúng tôi đến và là nơi chúng tôi sẽ gặp gỡ các anh em khác mang về một miếng thịt lợn lớn và một rổ lớn rau cải làm tôi liên tưởng đến những bữa tôi đã ăn với các gia đình trên Lai Châu, Sơn La. Quả thật như vậy. Bữa ăn chỉ thịt mỡ kho và rau cải nấu với chút muối. Những người đến sau lần lượt ngồi vào chỗ những người đã ăn xong.

Thịt mỡ và canh rau cải lại được đổ đầy các tô nhựa trên bàn.




Ăn xong, tôi muốn tắm hay ít nhất rửa mặt, nhưng đã có người gọi đến nhà ăn cơm. Không đi người ta sẽ bảo mình coi thường họ, không gặp mình nữa đâu. Đành phải xuống dốc, lên dốc đến với bữa cơm thịt kho, rau cải nấu với chút muối. Thử tưởng tượng nỗi cực khí bị ép phải ăn tối bốn bữa như vậy trong 3 giờ đồng hồ khổ đến thế nào? Tôi đã phải chống đũa với hai bữa liền sau như thế. Mà bữa nào cũng với hai món giống nhau chung những người của bữa trước. Mệt mỏi về đến nhà, đã có khoảng 50,60 người ngồi chật nhà chờ chúng tôi, không kể nhiều người đàn bà điụ con lấp ló ngoài cửa. Đã gần 9 giờ khuya. Tôi ngạc nhiên và cảm động trước sự kiên nhẫn của họ. Mệt mỏi tan biến mất. Anh bạn đi cùng nhường tôi nói chuyện trước với họ.


Trong ánh đèn led, tôi không thấy rõ mặt họ nhưng nhìn những dáng người yên lặng, gần như bất động trong bóng tối, tôi biết họ đang chăm chú nghe. Văng vẳng tiếng hát cầu nguyện Chúa từ những gia đình gần đó.

Đêm, có nhiều người không về, ngủ lại với chúng tôi chung trên một tấm nhựa lớn trải trên nền đất Bazan lẫn đá nện. Tôi gối đầu trên chai nhựa đựng đầy nước, ngủ ngon đến sáng.

Related

VNTB 2610640131830414289

Đăng nhận xét Default Comments







Giúp chúng tôi truyền cảm hứng và khởi tạo nhiều câu chuyện, nhiều thay đổi hơn.
Cám ơn quý vị đã tiếp sức cho chúng tôi.

BÀI VỀ LUẬT AN NINH MẠNG

Theo dõi VNTB

VƯỢT TƯỜNG LỬA VÀO VNTB

TIN MỚI

TẤN CÔNG MẠNG

TRUYỀN HÌNH

Phản hồi

Trong tuần

FANPAGE VIỆT NAM THỜI BÁO

item