Chính sách tỷ giá đến hồi mệt mỏi: giải pháp nào? *

Thông điệp và định hướng cho thị trường vẫn nguyên vẹn, nhưng việc thực thi đã đến hồi mệt mỏi... Tuần qua, thêm một lần nữa tỷ giá ...

Thông điệp và định hướng cho thị trường vẫn nguyên vẹn, nhưng việc thực thi đã đến hồi mệt mỏi...


Tuần qua, thêm một lần nữa tỷ giá USD/VND có biểu hiện căng thẳng. Tần suất của trạng thái này đang dày hơn trước, định hướng đã “đóng khung”, trong khi phần đất còn lại của chính sách nằm nhiều hơn ở ngoài lãnh thổ.




Với những gì đã diễn ra, 2015 là năm chính sách tỷ giá phải xoay xở nhiều nhất kể từ cuối 2011. Phải xoay xở nhiều hơn, có nghĩa là thực tế đã có nhiều thay đổi so với dự tính.

Thông điệp còn nguyên

Cuối tuần qua, Ngân hàng Nhà nước họp với lãnh đạo các ngân hàng thương mại. Biến động tỷ giá là một nội dung trọng tâm.

Trước thềm cuộc họp, tỷ giá USD/VND có phần hạ nhiệt, nhưng diễn biến trước đó một lần nữa cho thấy những thử thách tiềm tàng.

Ba tháng sau khi Ngân hàng Nhà nước liên tiếp có điều chỉnh tỷ giá và nới biên độ (ngày 19/8), lần thứ hai giá USD trên biểu niêm yết của các ngân hàng thương mại bám trần, chỉ cách 7 VND, cao nhất 22.540 VND.

Trên thị trường liên ngân hàng, đã xuất hiện một vài phiên thanh khoản kém, giá duy trì trên mốc 22.475 VND - mức Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước định hướng bán ra can thiệp. Trong các phiên 24 và 25/11, có thời điểm các ngân hàng đẩy giá mua bán với nhau lên tới 22.545 VND, tức chỉ cách trần có 2 VND.

Ngân hàng Nhà nước đã có động thái bán ra can thiệp. Tỷ giá trên liên ngân hàng hạ nhiệt nhanh nhưng vẫn ở trên mức 22.475 VND.

Tại cuộc họp cuối tuần qua, một lần nữa Ngân hàng Nhà nước nhìn nhận tác động lớn nhất vẫn là tâm lý thị trường. Thông điệp mà cơ quan này đưa ra ba tháng trước vẫn được khẳng định: giữ ổn định tỷ giá trong biên độ cho phép.

Ba tháng trước, sau khi tăng tỷ giá và nới biên độ, Ngân hàng Nhà nước định hướng và khẳng định việc xử lý chính sách đó đã tạo dư địa đủ cho việc ổn định tỷ giá không chỉ đến cuối 2015 mà cả những tháng đầu 2016. Đến nay, thông điệp đó còn nguyên.

Dư địa nằm ngoài lãnh thổ

Cùng nhận định với Ngân hàng Nhà nước, báo cáo tổng kết tuần của một số tổ chức đưa ra sáng nay (30/11) cũng cho rằng, tỷ giá tăng mạnh vừa qua có thể không phải nhu cầu thanh toán cao; nhập siêu đã chững lại, thậm chí xuất suất nhẹ tháng qua; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và kiều hối vẫn tăng khá…

Ngược lại, yếu tố tâm lý mà Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh, cũng như tác động chính hiện nay được cho là kỳ vọng thị trường vào khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ quyết định tăng lãi suất vào cuộc họp ngày 15-16/12 tới.

Trên thị trường thế giới, đồng USD cũng lên giá mạnh, trong khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) lại mở rộng nới lỏng tiền tệ.

Tình huống FED tăng lãi suất đã treo suốt từ đầu năm đến nay. Riêng sự dò đoán và ứng xử với nó bắt đầu từ tháng 6 trở lại đây đã là một sự mệt mỏi đối với chính sách điều hành tỷ giá USD/VND. Nó trở thành một điển hình đẩy dư địa của Ngân hàng Nhà nước ra ngoài lãnh thổ.

Tương tự, một tác động lớn và điển hình khác ngoài lãnh thổ là diễn biến đồng Nhân dân tệ, đã từng phá vỡ dư địa quãng định hướng giữ ổn định mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra đầu năm.

Chỉ riêng hai yếu tố trên, đầy sinh động và tiềm ẩn những tác động mở rộng mà có thể phá vỡ một “cam kết cứng” nào đó liên quan.

Với tỷ giá USD/VND, để tránh phá vỡ định hướng, tình huống của FED và ám ảnh đồng Nhân dân tệ còn treo đó đã khiến việc điều hành mệt mỏi, với tần suất phải xử lý dày đặc từ đầu năm đến nay.

Khi định hướng đã “đóng khung”, càng xử lý thì dư địa của chính sách càng hẹp đi.

Đã đến lúc thay đổi?

Dư địa là vùng đất Ngân hàng Nhà nước chủ động tạo ra. Từ năm 2011, nó gắn với lựa chọn chính sách: tuyên bố các khoảng biến động cho cả năm trước, đưa ra đáp số trước và xử lý các biến số sau.

Phải khẳng định rằng, lựa chọn trên đã đưa Ngân hàng Nhà nước lên vị thế của người chủ động dẫn dắt thị trường, niềm tin được gây dựng, đạt được các mục tiêu của chính sách.

Năm nay, nếu loại trừ biến cố quá lớn và quá khó lường từ sự kiện phá giá đồng Nhân dân tệ, cơ bản mục tiêu điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước vẫn đạt được. Nhưng, việc thực hiện đã mệt mỏi hơn nhiều.

Nếu từ cuối 2011, mỗi năm nhà điều hành chỉ điều chỉnh tỷ giá 1-2 lần, 2-3 đợt biến động phải can thiệp, thì riêng từ đầu năm đến nay đã phải ba lần điều chỉnh, hai lần nới biên độ, ít nhất hai lần phải bán ra can thiệp và không còn mua được ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối từ cuối quý 2.

Cùng đó, dư địa lãi suất USD đã gần như cạn kiệt sau quyết định hạ trần xuống 0% và 0,25% đối với tiền gửi tổ chức và cá nhân; Thông tư 15 có hiệu lực từ tháng 10 vừa qua cũng là một trong những biện pháp nắn dòng găm giữ cuối cùng của chính sách…

Thị trường đã thay đổi, điều kiện của các công cụ chính sách cũng đã thay đổi. Vậy, quan điểm và định hướng điều hành tới đây có thay đổi hay không?

Ngân hàng Nhà nước đang để ngỏ. Định hướng ổn định tỷ giá được mở “những tháng đầu năm 2016”. Còn sau đó thì sao? Trước mắt, khi các doanh nghiệp hoạch định chính sách kinh doanh, đầu tư, sản xuất năm tới, tham chiếu về tỷ giá còn để ngỏ.

Riêng ở khía cạnh đó cũng đã là một thay đổi lớn. Ba năm trước, họ được “cố định” mức độ biến động tỷ giá để xây dựng kế hoạch kinh doanh, chủ động với rủi ro và chi phí liên quan đến tỷ giá. Còn năm tới, đến nay vẫn chưa thể khẳng định được chắc chắn điều gì.


Theo Vneconomy

Bài đọc thêm: Chuyên gia bày cách ứng phó biến động tỷ giá

Năm 2015, VND bị mất giá khoảng 5%, đặc biệt là đợt biến động từ cơn bão tỷ giá Nhân dân tệ của Trung Quốc khiến nhiều doanh nghiệp lao đao. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước vừa khẳng định với các lãnh đạo nhà băng thông điệp: tỷ giá năm 2016 sẽ giữ ổn định nhưng không cố định.


Khó đoán như tỷ giá


Tỷ giá hối đoái trong năm 2016 dự báo còn nhiều biến động khi chính sách tiền tệ của Trung Quốc sẽ còn nhiều bất ngờ để bảo vệ nền kinh tế của nước này. VND đã bị phá giá tới 5% trong khi cam kết năm 2015 chỉ ở mức 2%. Chủ động phòng ngừa những cơn bão tỷ giá là vấn đề trọng tâm của những doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong thời gian tới.

Đại diện một doanh nghiệp xuất khẩu đã hỏi các chuyên gia kinh tế trong hội thảo “Quản trị tài chính trong bối cảnh tiền tệ hiện nay” diễn ra tại TP.HCM vừa qua rằng, trong năm 2015, doanh nghiệp chúng tôi đã lên kế hoạch biến động tỷ giá tới 3%, mặc dù cam kết của Ngân hàng Nhà nước chỉ 2%. Tuy nhiên, tỷ giá đến hết tháng 11/2015 đã tăng 5% làm doanh nghiệp rất khó khăn. Các chuyên gia có thể dự đoán cụ thể mức biến động tỷ giá năm 2016 để doanh nghiệp có kế hoạch chuẩn bị?

Các chuyên gia có mặt tại hội thảo lúc này thực sự bối rối. Ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chương trình giảng dạy Fulbright cũng thừa nhận, bài toán tỷ giá vẫn là bài toán khó từ trước đến nay, đặc biệt trong tình hình chính trị, kinh tế thế giới biến động không ngừng như hiện nay. Ngay như việc Trung Quốc phá giá mạnh và liên tục đồng Nhân dân tệ (CNY) tháng 8/2015 đã khiến nhiều nước bất ngờ và phải phá giá đồng nội tệ theo. Việt Nam không là ngoại lệ. Ngân hàng Nhà nước đã không thể giữ cam kết giữ tỷ giá ở mức 2%, mà VND mất giá tới 5% trong năm nay.

Trở về năm 2011, ngay đầu năm tỷ giá đã biến động mạnh khi tăng tới 9,3%, nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu đã bị “lỗ tỷ giá” tới hàng trăm tỷ đồng. Lúc đó, biến động tỷ giá chỉ là vấn đề riêng Việt Nam vì chủ động phá giá đồng nội tệ so với USD.

Năm 2016, câu chuyện tỷ giá của Việt Nam không đơn thuần chịu sự điều hành linh hoạt từ nhà quản lý, không đơn thuần về định giá giữa VND và USD, khi thương mại Việt - Trung thâm hụt nặng nề, nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc trong 9 tháng năm 2015 lên tới 24,3 tỷ USD, nhiều ngành có nguyên vật liệu phụ thuộc Trung Quốc…

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Thành nhận định, chính sách tiền tệ của Trung Quốc rất phức tạp, đồng Nhân dân tệ còn biến động.

Ứng phó chủ động

Nhiều doanh nghiệp đang lo lắng về “cơn bão tỷ giá” có thể xuất hiện trong thời gian tới và tìm cách chống đỡ.

Bà Josephine Yei, Tổng giám đốc CTCK Saigonbank Berjaya cho biết, ngoài các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá hối đoái, có nhiều cách để phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Chẳng hạn, doanh nghiệp có thể mở tài khoản ngoại tệ ở nơi có các khoản phải thu, phải trả có cùng loại tiền tệ để không phải chuyển đổi giữa các đồng tiền; Thực hiện bù trừ rủi ro nhóm bằng cách chuyển đổi tiền tệ giữa tài sản và nợ phải trả. Đối với những công ty sản xuất, chuyển đổi các cơ sở để giúp chi phí và doanh thu có cùng một loại tiền tệ.

Doanh nghiệp Việt có thể chuyển rủi ro cho các nhà cung ứng bằng cách yêu cầu họ báo giá bằng VND, bằng cách thuyết phục nhà cung ứng của mình rằng VND rất ổn định so với các đồng tiền khác khi chỉ giảm giá 5% từ đầu năm đến nay.

Nếu một doanh nghiệp Việt nhập khẩu nguyên vật liệu từ Nhật và bán sản phẩm tại Mỹ, doanh nghiệp đó phải mua đồng JPY để nhập khẩu và có USD khi xuất khẩu hàng hóa. Để giảm rủi ro tỷ giá, doanh nghiệp có thể đàm phán với đối tác Nhật trả bằng USD, lúc đó doanh nghiệp sẽ không mất phí chuyển đổi tiền tệ từ VND sang JPY và phí chuyển từ USD sang JPY.

Chọn thời điểm mua - bán ngoại tệ thích hợp. Doanh nghiệp có thể mua theo tỷ giá hiện hành, hoặc mua bán khi tỷ giá hối đoái lúc có lợi cho doanh nghiệp; Trả trước khoản vay, chẳng hạn vay 3 tháng, nhưng nếu đến tháng thứ 2 doanh nghiệp đã có tiền và thương lượng với ngân hàng trả trước hạn; Hoặc trả khoản vay làm nhiều lần thay vì trả một cục khi đến hạn, áp dụng khi không dám chắc tỷ giá ổn định.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể đưa rủi ro tỷ giá vào biên lợi nhuận và gánh chịu rủi ro dự báo trước. Chẳng hạn, tỷ giá VND 3% thì lồng ghép vào biên lợi nhuận và chi phí tăng tương ứng 3%.

Nếu doanh nghiệp xuất khẩu cho một quốc gia và thanh toán bằng EUR hoặc USD, doanh nghiệp có thể yêu cầu đối tác thanh toán ngay để được chiết khấu thay vì 3 tháng sau mới trả. Như vậy, chúng ta đã kiểm soát được rủi ro tỷ giá khi tính theo tỷ giá giao ngay.

Các tập đoàn đa quốc gia thường có thể giảm rủi ro tiền tệ bằng cách sắp xếp các khoản vay song song hoặc vay gối đầu.

Việc hoán đổi tiền tệ cũng là một phương thức tốt. Hai doanh nghiệp hoán đổi cho nhau một lượng ngoại tệ và số tiền này sẽ được hoán đổi ngược trở lại ban đầu ở một thời điểm trong tương lai.

Nếu một doanh nghiệp không tìm thấy đối tác hoán đổi tiền tệ, có thể sử dụng hoán đổi tín dụng. Hoán đổi tín dụng liên quan đến khoản tiền gửu bằng một loại tiền tệ và một khoản vay bằng ngoại tệ khác. Khoản tiền gửi được hoàn trả sau khi đã trả khoản vay.

Ví dụ, một doanh nghiệp Mỹ có thể gửi tiền USD trong chi nhánh San Franisco của một ngân hàng Châu Á, và ngược lại ngân hàng này sẽ cho doanh nghiệp vay đồng Yên (JPY) cho một khoản đầu tư tại Nhật. Sau khi doanh nghiệp đã trả tiền vay là đồng JPY cho ngân hàng ở Châu Á, ngân hàng sẽ trả lại tiền USD cho doanh nghiệp.

Theo bà Yei, điều cốt yếu là doanh nghiệp phải biết rủi ro của mình và phải luôn đi trước một bước, nên áp dụng các biện pháp khác nhau thì rủi ro sẽ giảm xuống mức tối thiểu.

Theo Bizlive

Related

tỷ giá USD 3185638079470890644

Đăng nhận xét Default Comments

BÀI VỀ LUẬT AN NINH MẠNG

Theo dõi VNTB

VƯỢT TƯỜNG LỬA VÀO VNTB

TIN MỚI

TẤN CÔNG MẠNG

TRUYỀN HÌNH

Phản hồi

Trong tuần

FANPAGE VIỆT NAM THỜI BÁO

item