Trời đất Côn Lôn

Lê Tự Quảng Nam (VNTB) Côn Đảo (còn có tên khác là Côn Lôn hay Côn Sơn) một quần đảo bao gồm 16 đảo lớn, nhỏ, trực thuộc tỉnh Bà rịa - Vũ...

Lê Tự Quảng Nam

(VNTB) Côn Đảo (còn có tên khác là Côn Lôn hay Côn Sơn) một quần đảo bao gồm 16 đảo lớn, nhỏ, trực thuộc tỉnh Bà rịa - Vũng Tàu. Côn đảo là quần đảo tiền tiêu nằm ở bờ biển phía Nam của tổ quốc, cách đất liền nơi gần nhất là cửa Trần Đề sông Hậu, khoảng 50 hải lý (90km), cách Vũng Tàu hơn 100 hải lý (187km), và chỉ cách Sài gòn 230km đường hàng không.

Nhắc đến Côn Đảo, người ta thường liên tưởng ngay đến “địa ngục trần gian”. Đúng như vậy, Côn đảo là một nhà tù khắc nghiệt, khét tiếng không chỉ ở Việt Nam mà còn lừng danh trên thế giới! Nhà tù này đã tồn tại qua hơn một thế kỷ (1862-1975). Chính nơi đây, đã giam cầm biết bao thế hệ những chí sĩ, những nhà cách mạng, sĩ phu yêu nước, mà tên tuổi của họ đã bất tử, vĩnh viễn đi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Thế nhưng, Côn Đảo còn có quá nhiều điều hấp dẫn, để chúng ta nên đến đây ít nhất một lần trong đời. Vì Côn đảo không những có di tích lịch sử nổi tiếng, danh thắng biển đảo hùng vĩ đẹp, những rạng san hô nguyên sinh đầy màu sắc làm say đắm những người thích mạo hiểm… mà còn là “miền đất thiêng” của nước Việt.

Người Côn Đảo

Cư dân sống ở miền đất thiêng này, được tập hợp và hình thành tại nơi đây qua nhiều thế hệ trải qua hàng trăm năm. Gốc gác dân sở tại, nhiều nhất chính là người dân miền biển của các tỉnh từ Miền Trung trở vào cho đến đồng bằng sông Cửu Long như Bình Định, Quảng Ngãi, Bà Rịa, Long An, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu….
Nghe kể lại rằng, cư dân bản địa là những người đã bị phong ba, bão tố dập vùi trên biển, đã trôi dạt vào các đảo hoang nơi đây, rồi lớp người từ thời theo Chúa Nguyễn chạy ra đảo lánh nạn, và nhiều nhất là những cư dân thời Pháp thuộc khi chính quyền thực dân biến Côn Đảo thành nhà tù để giam giữ những người yêu nước. Có những người đã mãn hạn tù mà không về quê quán nữa… Tất cả nhiều lớp người, nhiều thế hệ đã ở lại đây định cư và lập nghiệp, sinh con, đẻ cái… và xem đây chính là quê hương của mình. Những cư dân thập phương đã đoàn kết, đùm bọc yêu thương nhau, hiền hòa chân chất, và họ yêu mảnh đất này “đất lành chim đậu” đã cho họ đời sống.
Đảo chính Côn Lôn là trung tâm của huyện đảo. Côn Lôn như một “hàng không mẫu hạm” mang hình con Gấu nằm giữa biển khơi của vùng biển phía Nam.
Là hậu cần của các tàu cá đánh bắt xa bờ, hàng trăm năm qua, tàu cá của các tỉnh từ Miền Trung, Miền Tây Nam bộ thường xuyên ghé vào đây để bán hải sản đã đánh bắt được và chính đây cũng là nơi họ mua lương thực, thực phẩm, nước đá, muối… để rồi lại ra khơi xa đánh bắt dài ngày, trong mùa vụ cá trên ngư trường ngoài khơi xa.
Người dân Côn Đảo mến khách và hiền hòa. Khoảng chục ngàn dân, cư ngụ tại nơi đây, tập trung chủ yếu vào ba khu dân cư chính: Thị trấn trung tâm hành chính huyện, sân bay ở làng Cỏ Ống và Bến Đầm. Trên quần đảo có tất cả 10 khu dân cư trực thuộc huyện. Côn Đảo chỉ có đơn vị hành chánh huyện duy nhất, không có xã, phường.
Trật tự, an ninh xã hội quá tốt, dân trên đảo nói: đêm ngủ để xe ngoài đường cũng không ai thèm lấy (vì biết đưa đi đâu!). Quán xá gần như không đóng cửa, chỉ khép hờ sơ sài. Một cán bộ ngành tư pháp huyện cho biết: một năm ở đây chưa đến mười vụ án xét xử tại tòa án huyện! Và gần như không có trọng án.

Côn Lôn xưa

Các địa danh của quần đảo này, được mang những cái tên mộc mạc, chân chất của từng con người đã gắn bó yêu thương nơi đây qua thời gian: Bãi Ông Cường, Hóc Ông Định, Bưng Bà Bèo, Hòn Cau, Hòn Tài, Bãi Đầm Trầu… Những cái tên ấy đều mang riêng cho mình một truyền thuyết, một câu chuyện, một mối tình về sự thủy chung, trắc trở, những bi kịch… đã được lưu truyền qua nhiều đời rất phong phú.
Xin được chép lại câu chuyện về Bà Hoàng Phi Yến (Lê Thị Răm) thứ phi của Chúa Nguyễn Phúc Ánh. Vào cuối năm 1783, vì bị sự truy đuổi gắt gao của nhà Tây Sơn, Chúa Nguyễn phải chạy ra Côn Lôn lánh nạn. Trong lúc cùng đường Chúa Nguyễn định đưa Hoàng tử Cải (con của ông và Bà Phi Yến) theo nhà truyền đạo Bá Đa Lộc sang Pháp làm con tin để cầu viện. Bà Phi Yến đã can chồng: “…việc đánh nhau với Tây Sơn là việc trong nhà, xin Chúa công nên dùng nghĩa binh trong xứ thì hơn. Nay bệ hạ nhờ ngoại bang, cho dù có thắng địch cũng không vẻ vang... Thiếp e rằng hậu chiến sẽ có nhiều rắc rối và tai tiếng về sau…”. Chính vì lời khuyên can ấy mà bà đã mang họa vào thân! Chúa Nguyễn cho rằng bà có ẩn ý, thông đồng với nhà Tây Sơn, nên đã quyết xử trảm bà. Nhưng, nhờ nhiều quan đại thần lúc ấy can ngăn, nên ông đã tha bà tội chết, song đã đày và giam bà trên một đảo hoang (Hòn Bà ngày nay). Còn số phận của Hoàng tử Cải (mới lên 5 tuổi) thì bị Chúa Nguyễn ném xuống biển trong một cơn thịnh nộ, khi hoàng tử khóc đòi mẹ.
Tương truyền rằng Bà Phi Yến sau đó ít lâu đã được dân làng ra đảo cứu về, Bà đã cùng dân làng lập miếu thờ con (Miếu Cậu) và làm nhà bên cạnh Miếu ở Bãi Đầm Trầu để chăm sóc, nhang khói cho hoàng tử.
Trong một Lễ đàn chay năm 1875, bà bị một tên đồ tể phàm phu sàm sở, đụng vào cánh tay. Để giữ tiết hạnh Bà đã chặt một cánh tay của mình và ngay trong đêm đó, bà đã tự tử để vẹn toàn danh tiết. Dân ở đảo tiếc thương đã lập miếu thờ bà (An Sơn Miếu). Đã qua nhiều đời, An Sơn Miếu đều có người trông coi nhang khói cho Bà và hàng năm vào ngày 18 tháng 10 âm lịch (ngày giỗ Bà) chính là ngày hội lớn nhất của người dân tại Côn đảo.

Người Việt Du lịch tâm linh

Bước chân vào Bảo tàng trưng bày di tích Côn đảo, tôi lặng người trước những kỷ vật, hình ảnh, tư liệu đã rỉ sét, ố màu thời gian… Biết bao thế hệ những nhà chí sĩ, những nhà cách mạng lừng danh đã phải nếm trải biết bao cực hình tại những lao tù trên vùng đất này như: Lã Xuân Oai, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Trần Cao Vân, Nguyễn An Ninh, Trần Trọng Cung… của thời kỳ các phong trào Cần vương, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, chống sưu thuế ở Trung kỳ, nổi dậy ở Nam Kỳ… Tiếp theo sau đó là hàng vạn những người cộng sản như: Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Tôn Đức Thắng, Lê Hồng Phong, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh… mà tên tuổi và chí khí kiên cường, buất khuất đã làm rạng danh những trang sử vẻ vang của dân tộc.
Đến nghĩa trang Hàng Dương vào một đêm cuối tháng âm lịch. Tôi rất bất ngờ, mặc dầu anh Tâm (Viện kiểm sát huyện Côn Đảo) đã nói trước. Rất nhiều đoàn khách đã viếng thăm lúc giữa đêm. Ánh sáng của nhang đèn, vàng mã đốt lên sáng rực một góc trơời đêm trong nghĩa trang này.
Tất cả mọi người đều lặng im, tự chiêm nghiệm mình trước những ngôi mộ chỉ có cờ tổ quốc mà không có tên tuổi. Vỏn vẹn có 802 ngôi mộ có tên trên hơn hai ngàn ngôi mộ hiện hửu. Mộ của liệt sỹ Võ Thị Sáu được nhiều đoàn ghé thăm nhất. Chị Thảo Phương – trong đoàn một công ty xây dựng từ Hà Nội vừa đốt nhang vừa nói: “Thương các cụ ở đây quá anh à. Mình có được như ngày hôm nay, là phải luôn ghi ơn và nhớ đến các cụ. Tôi đến đây là một ước nguyện từ bấy lâu nay, bây giờ mới thực hiện được…”. Không thể nào đi hết gần 20 héc-ta của nghĩa trang, nơi yên nghỉ của gần hai vạn những người yêu nước và nhiều nhất là những người cộng sản qua hai thời kỳ kháng chiến của dân tộc, mà xác thân, xương cốt của họ đã hòa tan vào đất cát ở nơi đây! (nghe kể lại, thỉnh thoảng trên cát khi trời mưa vẫn còn vương vải xương người…) . Tôi đến được khu mộ của nhà yêu nước Nguyễn An Ninh, của liệt sỹ Lê Hồng Phong người cộng sản là Tổng bí thư đầu tiên của Đảng.
Ghé thăm mộ ông Vũ Văn Hiếu (Bí thư đặc khu ủy vùng mỏ Quảng Ninh), người cộng sản đặc biệt với câu chuyện “trao áo trước khi chết” lại cho ông Lê Duẩn. Chuyện kể rằng: thời ấy gần như tất cả tù chính trị, khi ở trong lao đa số đều trần truồng hoặc quần áo rách nát. Ông Hiếu khi gần mất, thân thể trần truồng đã cầm tấm áo trao lại cho ông Lê Duẩn và nói: Đồng chí hãy giữ tấm áo này mà mặc, để tiếp tục phục vụ cho cách mạng… Từ câu chuyện cảm động này, nay đã được dựng “tượng đài trao áo” ngay trong khu nghĩa trang.
Còn biết bao địa danh mà khi nghe tên chúng ta phải lặng người vì máu xương của cha, ông đã đổ xuống như: Chuồng cọp, Sở muối, Sở Lò vôi, Cầu Ma Thiên Lãnh, Cầu tàu 914 (để làm được cầu tàu này, nó đã cướp đi 914 sinh mạng của người tù). “Nơi đây (nghĩa trang quốc gia Hàng Dương) chính là bàn thờ của tổ quốc, biết bao anh hùng cách mạng đã ngã xuống nơi đây vì đòn roi tra tấn dã man, vì lao động khổ sai và ăn uống kham khổ. Họ đã hy sinh trả giá cho độc lập dân tộc bằng chính sinh mạng của mình” - một cán bộ lão thành (đoàn đến từ Quảng Nam) vừa thắp nhang vừa nói.
Hầu hết các đoàn du lịch nội địa, khi ra đây thăm thú, nghỉ dưỡng, đều đã ghé lại nghĩa trang Hàng Dương để thực thi “bổn phận nghiêng mình” trước các anh linh đã vị quốc vong thân của dân tộc ta nơi biển đảo xa xôi này…

Lê Tự Quảng Nam

Bài viết thể quan điểm và văn phong riêng của tác giả.

Related

Thời sự 305265714457056702

Đăng nhận xét Default Comments

1 nhận xét

Thanh Binh nói...

"Tôi đến được khu mộ của nhà yêu nước Nguyễn An Ninh, của liệt sỹ Lê Hồng Phong người cộng sản là Tổng bí thư đầu tiên của Đảng"
Trần Phú hay Lê Hồng Phong là tổng bí thơ đầu tiên của Đảng?

BÀI VỀ LUẬT AN NINH MẠNG

Theo dõi VNTB

VƯỢT TƯỜNG LỬA VÀO VNTB

TIN MỚI

TẤN CÔNG MẠNG

TRUYỀN HÌNH

Phản hồi

Trong tuần

FANPAGE VIỆT NAM THỜI BÁO

item